Trong cuộc sống hiện đại, điện ảnh là hình thức nghệ thuật được khai phá muộn nhất, cũng là một loại hình nghệ thuật cao cấp nhất, phức tạp nhất, được đầu tư cực kỳ công phu. Tác phẩm điện ảnh, trong quá trình phát triển từ cuối thế kỷ 19, đã chuyển từ một loại hình giải trí mới lạ đơn thuần trở thành một nghệ thuật và công cụ truyền thông đại chúng, giải trí quan trọng bậc nhất của xã hội hiện đại.

XEM THÊM: Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm âm nhạc

Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Bài viết dưới đây sẽ phân tích bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Các tác phẩm điện ảnh để hoàn thiện yêu cầu cả sự sáng tạo lẫn tay nghề kỹ thuật cao nên hầu hết chúng luôn đi kèm với một đội ngũ sáng tạo, kỹ thuật chuyên nghiệp để có thể tạo thành tác phẩm hoàn thiện, việc đó khiến cho việc sản xuất, sáng tạo tác phẩm điện ảnh luôn đắt đỏ và yêu cầu nguồn tiền lớn hơn tất cả các loại hình sáng tác khác. Chính vì vậy mà việc bảo vệ quyền tác giả cho loại hình nghệ thuật này là vấn đề vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, thu lợi nhuận từ giá trị mà tác phẩm điện ảnh mang lại.

Tác phẩm điện ảnh

Điện ảnh là loại hình nghệ thuật tổng hợp thể hiện bằng hình ảnh động, kết hợp với âm thanh, được ghi trên vật liệu phim nhựa, băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác để phổ biến đến công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật. (Khoản 1 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006, sửa đổi 2009) 

Hiểu thế nào về tác phẩm điện ảnh

Tác phẩm điện ảnh là một trong những loại hình tác phẩm nghệ thuật được đầu tư cực kỳ công phu, kỹ lưỡng; là sự kết hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau để tạo thành tác phẩm hoàn thiện. Việc bảo vệ quyền tác giả cho loại tác phẩm này là vấn đề vô cùng quan trọng, và ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, thu lợi nhuận từ giá trị của tác phẩm khi công bố.

Tác phẩm điện ảnh được định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Luật Điện ảnh hiện hành như sau:

“Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh.”

Bởi tính chất đặc biệt để tạo nên loại hình tác phẩm này, các quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng được pháp luật hướng dẫn tương ứng cho các tác giả góp sức sáng tạo, cũng như chủ sở hữu tác phẩm.

Tác phẩm điện ảnh, tại khoản 2 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006, sửa đổi 2009 được định nghĩa là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Có thể thấy rằng điện ảnh là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, bài hát, kịch bản,…Đôi khi mỗi mục này được tạo ra bởi một người khác nhau. Chính vì tính chất đặc biệt này mà các quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng được pháp luật hướng dẫn tương ứng cho các tác giả đã góp sức sáng tạo, cũng như chủ sở hữu tác phẩm.

Tác phẩm điện ảnh mang đặc tính vô hình, nên việc chiếm hữu tác phẩm cũng không thể là một trong các yếu tố xác nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu tác phẩm. Bởi việc hình thành nên một tác phẩm điện ảnh là hoạt động sáng tạo tổng hợp nhiều công đoạn, quá trình khác nhau kết hợp các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng khác nhau để tạo nên một tác phẩm. Ngoài ra, tác phẩm điện ảnh còn là sản phẩm của hoạt động tư duy sáng tạo của nhiều chủ thể hợp thành. Khoản 1 Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 quy định các chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh bao gồm như: đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim,… Vì vậy, tác phẩm điện ảnh được tạo ra do một tập thể, nhóm người, nên mỗi cá nhân sáng tạo của loại hình này đều có vị trí, vai trò và sự đóng góp riêng biệt trong quá trình hình thành tác phẩm điện ảnh. Kết quả lao động sáng tạo của tác giả được pháp luật và Nhà nước bảo hộ thông qua hệ thống pháp luật, khi Luật sở hữu trí tụệ đã ghi nhận và bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh cho tập thể tác giả về quyền nhân thân và quyền tài sản. Pháp luật quy định, trước khi khai thác tác phẩm cần có sự đồng ý, cho phép của tập thể tác giả và trả nhuận bút, thù lao để đảm bảo sự tôn trọng đối với tác giả cũng như ghi nhận thành quả, công sức của họ, tiếp thêm động lực để họ tiếp tục có những kết quả lao động sáng tạo về sau.

Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm điện ảnh
Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm điện ảnh

  Ngoài ra, tác phẩm điện ảnh còn có một loại hình tác phẩm phái sinh, được tạo ra trên một tác phẩm điện ảnh gốc sau đó chuyển thể, cải biên. Chính vì thế mà quyền sáng tạo tác phẩm phái sinh hiện đang là độc quyền của tác giả sở hữu sản phẩm điện ảnh gốc, và tác giả sản phẩm gốc có quyền được biết, được xin phép và được trả tiền cho sản phẩm phái sinh sản xuất trên sản phẩm gốc của họ. Chính vì tính nguyên gốc, riêng biệt vốn có của người tạo ra sản phẩm gốc này mà pháp luật luật có nghĩa vụ phải bảo vệ tác phẩm gốc, được ghi nhận là tác phẩm được hình thành trực tiếp từ quá trình lao động của tác giả mà không sao chép tác phẩm đã có. Đây vừa căn cứ cần thiết để bảo về quyền tác giả, cũng là khó khăn của các cơ quan thực thi pháp luật SHTT.

Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Theo quy định của Điều ước quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng, chủ thể sáng tạo ra tác phẩm điện ảnh cũng là đối tượng nhận được sự bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng được bảo hộ đầy đủ như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật khác

Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh là quyền của các tổ chức, cá nhân là tác giả, chủ sở hữu của tác phẩm điện ảnh. Theo hướng dẫn tại Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, các chủ thể liên quan đến tác phẩm điện ảnh được bảo hộ các quyền tác giả khác nhau. Cụ thể:
– Người làm công việc đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
– Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh được hưởng các quyền tài sản theo quy định định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm

Loại hình tác phẩm điện ảnh

Tác phẩm điện ảnh được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 2 Thông tư 28/2014/TT-BVHTTDL quy định về quản lý hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế diện quản lý chuyên ngành văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, theo đó:

Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh, bao gồm:

Phim là loại hình tác phẩm điện ảnh phổ biến nhất, bao gồm các thể loại:

– Phim là tác phẩm điện ảnh bao gồm phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại phim khác;

– Phim nhựa là phim được sản xuất bằng phương tiện kỹ thuật điện ảnh, được ghi trên vật liệu phim nhựa để chiếu trên màn ảnh thông qua máy chiếu phim;

– Phim video là phim sản xuất bằng phương tiện kỹ thuật video, được ghi trên băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác để phát thông qua thiết bị video;

– Phim kỹ thuật số là phim được sản xuất bằng công nghệ kỹ thuật số được ghi lại dưới dạng các tập dữ liệu tin học lưu trong đĩa số, ổ cứng, băng từ và các vật liệu lưu trữ thông tin số khác để phát thông qua thiết bị kỹ thuật số;

– Phim truyền hình là phim video, phim kỹ thuật số để phát trên sóng truyền hình;

– Băng phim, đĩa phim là sản phẩm của phim video, phim kỹ thuật số hoặc được in sang từ phim nhựa.

Ngoài tác phẩm phim, còn một số loại hình tác phẩm liên quan trực tiếp đến tác phẩm điện ảnh như: Kịch bản phim, kịch bản phân cảnh, nhạc phim, logo poster phim… Mỗi loại hình tác phẩm này đều có thể được bảo hộ quyền tác giả riêng biệt.

Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm điện ảnh

Hồ sơ đăng ký quyền tác giả về cơ bản cần chuẩn bị theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 50 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành bao gồm:

– Tờ khai đăng ký bảo hộ quyền tác giả theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 08/2016/TT-BVHTTDL;

– Bản sao có công chứng giấy CMND của tác giả tác phẩm điện ảnh;

– Quyết định giao việc nếu chủ sở hữu đối với quyền tác giả là công ty;

– Giấy ủy quyền (nếu người nộp đơn là người được ủy quyền);

– Bản mô tả, tóm tắt chi tiết tác phẩm điện ảnh (Đóng quyển);

– Bản sao ghi thành đĩa tác phẩm điện ảnh (Đóng quyển);

– Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, đồng chủ sở hữu (nếu tác phẩm có đồng tác giả oặc quyền tác giả thuộc sở hữu chung);

– Chứng từ nộp phí, lệ phí;

– Các đầu hồ sơ khác sẽ theo yêu cầu của Cục bản quyền tác giả.        

Thời hạn bảo hộ tác phẩm điện ảnh có phụ thuộc vào thời điểm công bố hay không?

Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện hành có quy định về thời hạn mà quyền tác giả bảo hộ đối với tác phẩm. Mục đích chính là nhằm bảo vệ toàn vẹn nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả. Thời hạn mà quyền tác giả bảo chính là khoảng thời gian mà pháp luật sở hữu trí tuệ quy định. Trong khoảng thời gian đó các quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đều được bảo đảm.

Với mỗi loại hình tác phẩm sẽ có thời hạn bảo hộ quyền tác giả khác nhau  tùy theo bản chất và từng trường hợp cụ thể. Tác phẩm điện ảnh cũng như thế, bản chất của tác phẩm này cũng sẽ có những nét đặc trưng riêng biệt. Vì vậy mà thời hạn quyền tác giả bảo hộ đối với loại hình này cũng sẽ khác biệt.

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định tại Điều 27 của Luật sở hữu trí tuệ và theo quy định tại điều luật này thì có thể xác định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) là vô thời hạn. Trong khi đó quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản đối với tác phẩm tùy từng trường hợp mà có thời hạn bảo hộ khác nhau.

Nếu trường hợp tác phẩm điện ảnh đó đã được công bố thì thời hạn sẽ là 50 năm kể từ thời điểm công bố. Còn nếu trường hợp tác phẩm không được công bố thì thời hạn sẽ được tính từ thời điểm tác phẩm đó được định hình.

XEM THÊM: Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan

Như vậy thời hạn bảo hộ của quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh không quá phụ thuộc vào yếu tố có được công bố hay không tùy theo từng trường hợp cụ thể mà thời hạn này sẽ được xác định cụ thể.

Pháp luật Việt Nam có quy định về thời hạn để tác giả có thể bảo hộ quyền đối với tác phẩm của mình. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả. Thời hạn mà bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định tại Điều 27 của Luật sở hữu trí tuệ, theo quy định tại điều luật này thì có thể xác định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) là vô thời hạn. Trong khi đó quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản đối với tác phẩm tùy từng trường hợp mà có thời hạn bảo hộ khác nhau.

Nếu trường hợp tác phẩm điện ảnh đó đã được công bố thì thời hạn sẽ là 50 năm kể từ thời điểm công bố. Còn nếu trường hợp tác phẩm không được công bố thì thời hạn sẽ được tính từ thời điểm tác phẩm đó được định hình.

Như vậy thời hạn bảo hộ của quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh không quá phụ thuộc vào yếu tố có được công bố hay không tùy theo từng trường hợp cụ thể mà thời hạn này sẽ được xác định cụ thể. Để được tư vấn chi tiết hơn, quý vị đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi. “Một cuộc gọi – Vạn dịch vụ” là phương hướng hoạt động của Vạn Luật, hi vọng đem đến cho khách hàng sự tiện lợi nhất. Xin chân thành cảm ơn!

Nguồn: Thư viện pháp luật

One thought on “Đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm điện ảnh

  1. Pingback: Thủ tục và thời gian làm hồ sơ Đăng ký Quyền tác giả

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Reach us on WhatsApp
1
[twwr-whatsapp-chat id="15450"]