Mỹ phẩm đã có số tiếp nhận phiếu công bố không đồng nghĩa mọi nội dung quảng cáo đều được phép. Doanh nghiệp chỉ nên chạy chiến dịch khi sản phẩm có hồ sơ phù hợp, nội dung đúng tính chất mỹ phẩm và đáp ứng nghĩa vụ quảng cáo hiện hành. Từ ngày 15/2/2026, cần cập nhật việc bãi bỏ thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm; không dùng quy trình cũ để tạo thêm một bước xin phép đã không còn áp dụng.
Bài viết đi theo bàn kiểm duyệt của một chiến dịch: kiểm tra sản phẩm, kiểm tra câu chữ, kiểm tra cách thể hiện rồi mới duyệt phát hành. Checklist dưới đây là công cụ quản trị nội bộ, không phải mẫu hồ sơ hành chính bắt buộc.
Bàn số 1: xác định đúng “đã công bố”
Trước khi giao việc cho đội nội dung, cần xác định phiếu công bố thuộc đúng sản phẩm định quảng cáo. Đối chiếu tên, nhà sản xuất, tổ chức chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường và thông tin liên quan. Một dòng sản phẩm có nhiều phiên bản không được tự lấy hồ sơ của phiên bản khác.
Số tiếp nhận phiếu công bố không phải chứng nhận cơ quan nhà nước đã kiểm nghiệm và bảo đảm mọi công dụng được quảng cáo. Khi rà công bố mỹ phẩm, doanh nghiệp cần phân biệt thủ tục với trách nhiệm an toàn, chất lượng và thông tin sản phẩm. Không dùng hồ sơ để gợi ý cơ quan quản lý bảo chứng hiệu quả.
Kiểm tra tình trạng hiệu lực và các thay đổi sau công bố. Nếu đổi nhà sản xuất, công thức hoặc thông tin quan trọng, bộ phận pháp lý phải xác định hướng cập nhật trước khi nội dung chiến dịch lấy hồ sơ cũ làm nền. Một bản scan có dấu tiếp nhận chưa trả lời được sản phẩm hiện tại còn khớp hồ sơ hay không.
Mốc pháp lý mới cần ghi trong quy trình nội bộ
Thông tư 03/2026/TT-BYT bãi bỏ các quy định liên quan thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm, có hiệu lực ngày 15/2/2026. Văn bản hợp nhất 09/VBHN-BYT ngày 16/3/2026 thể hiện các phần tương ứng bị bãi bỏ trong quy định xác nhận quảng cáo thuộc quản lý y tế.
Vì vậy, không nên yêu cầu đội marketing xin mới giấy xác nhận nội dung mỹ phẩm theo thủ tục cũ rồi mới chạy. Tuy nhiên, bỏ thủ tục tiền kiểm không có nghĩa bỏ điều kiện nội dung hoặc trách nhiệm của người quảng cáo. Quy trình chuyển từ chờ một giấy xác nhận sang tự kiểm soát chặt thông tin và lưu căn cứ.
Khi tham khảo trang giấy phép quảng cáo, hãy phân biệt từng nhóm sản phẩm và thời điểm áp dụng. Quy định cho thuốc, thực phẩm hoặc dịch vụ chuyên ngành không được sao chép nguyên sang mỹ phẩm.
Bàn số 2: viết công dụng bằng ngôn ngữ của mỹ phẩm
Câu quảng cáo phải phù hợp bản chất, phân loại và tính năng, công dụng đã công bố. Không biến một sản phẩm chăm sóc da thành thuốc bằng những câu hứa điều trị bệnh. Chỉ thêm dòng “không phải thuốc” ở cuối không chữa được một thông điệp chính vẫn nói như thuốc.
Đội nội dung nên lập một bảng câu được phép dùng, câu cần bằng chứng và câu phải loại bỏ. Mỗi câu có người kiểm tra và tài liệu tham chiếu. Bảng này hữu ích hơn việc gửi cho agency một bộ hồ sơ dài rồi để họ tự suy luận công dụng.
| Cách diễn đạt | Điểm cần kiểm tra | Hướng xử lý nội bộ |
|---|---|---|
| Mô tả chăm sóc, làm sạch, dưỡng da | Có khớp công dụng và tài liệu sản phẩm? | Chỉ duyệt khi có căn cứ phù hợp |
| Hứa điều trị bệnh hoặc thay thuốc | Có làm người xem hiểu là thuốc? | Loại bỏ và viết lại thông điệp |
| Kết quả tuyệt đối cho mọi người | Có gây hiểu sai về hiệu quả? | Tránh lời hứa không được chứng minh |
| Số liệu, so sánh hoặc danh xưng | Nguồn chứng minh có đúng phạm vi? | Không dùng chỉ vì hấp dẫn |
Đây không phải danh sách từ khóa được phép sử dụng vô điều kiện. Một câu có vẻ nhẹ vẫn có thể gây hiểu sai khi đi cùng hình ảnh, tiêu đề hoặc lời kể. Cần xem toàn bộ thông điệp mà người tiêu dùng tiếp nhận.

Ba kiểu câu cần dừng để kiểm tra
Kiểu thứ nhất là lời hứa điều trị. Nếu kịch bản kể sản phẩm chữa một bệnh hoặc thay phương pháp điều trị, phải đánh giá lại ngay. Không chuyển rủi ro sang KOL bằng cách gọi đó là trải nghiệm cá nhân; video vẫn có thể là quảng cáo do doanh nghiệp tổ chức.
Kiểu thứ hai là hiệu quả tuyệt đối. Những câu như ai dùng cũng đạt kết quả hoặc hiệu quả tức thì cần căn cứ và đánh giá khả năng gây hiểu sai. Không lấy trải nghiệm của một người làm kết quả chung cho toàn bộ khách hàng.
Kiểu thứ ba là so sánh vượt trội. Nếu nêu tỷ lệ, xếp hạng hoặc so sánh với sản phẩm khác, phải kiểm tra nguồn, phương pháp và phạm vi. Một tài liệu thử nghiệm nguyên liệu không tự chứng minh sản phẩm cuối cùng có đúng kết quả được nêu.
Bàn số 3: kiểm tra các thông tin phải thể hiện
Điều 4 Nghị định 342/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ 15/2/2026, quy định nội dung quảng cáo mỹ phẩm. Các thông tin cần có gồm tên mỹ phẩm; tính năng, công dụng; tên, địa chỉ tổ chức hoặc cá nhân công bố; cảnh báo theo quy định áp dụng. Trường hợp tên đã thể hiện tính năng, công dụng thì không phải nêu lại phần đó.
Nghị định cũng yêu cầu nội dung phù hợp tính chất, phân loại và công dụng đã công bố, không làm người xem hiểu mỹ phẩm là thuốc. Không sử dụng hình ảnh, trang phục, tên, thư tín hoặc bài viết của cơ sở y tế, bác sĩ, dược sĩ và nhân viên y tế trong quảng cáo mỹ phẩm.
Đối với quảng cáo có âm thanh hoặc video, kiểm tra thêm yêu cầu đọc và thể hiện thông tin theo hình thức cụ thể. Quy định về video ngắn không phải lý do bỏ toàn bộ cảnh báo. Đội sản xuất cần đối chiếu đúng điều khoản, thay vì rút nhỏ chữ đến mức người xem không thể đọc.
Kiểm tra cả phiên bản được cắt nhỏ
Một video dài đã được duyệt có thể bị cắt thành nhiều video ngắn để chạy quảng cáo. Mỗi phiên bản cắt phải được kiểm tra lại thông điệp và phần thông tin bắt buộc. Không coi phê duyệt bản gốc tự bao phủ mọi bản cắt, tiêu đề mới hoặc phụ đề được thêm sau.
Ảnh tĩnh, trang đích, bài đăng và lời thoại cần cùng phản ánh một sản phẩm. Nếu ảnh nói dưỡng da nhưng trang đích hứa điều trị, chiến dịch vẫn có điểm rủi ro. Hãy rà hành trình từ quảng cáo đến trang mua hàng, không chỉ tệp sáng tạo đầu tiên.
Bàn số 4: làm việc với KOL, KOC và agency
Người sáng tạo cần nhận một bản hướng dẫn ngắn: thông điệp được dùng, nội dung không được dùng, phần phải thể hiện và cách gửi bản duyệt. Một hợp đồng chỉ ghi “tuân thủ pháp luật” thường chưa đủ để người quay hiểu câu nào cần dừng.
Luật quảng cáo sửa đổi tại Luật 75/2025/QH15 cần được đối chiếu cùng quy định liên quan trách nhiệm của các chủ thể quảng cáo. Doanh nghiệp không nên coi nội dung do người ảnh hưởng nói tự phát là hoàn toàn ngoài trách nhiệm quản lý chiến dịch.
Khi livestream, rủi ro nằm ở phần nói ngoài kịch bản. Hãy thống nhất trước cách trả lời câu hỏi về bệnh, hiệu quả và đối tượng sử dụng. Nếu không đủ căn cứ, người dẫn chuyển câu hỏi đến bộ phận phụ trách, không đưa lời khuyên điều trị để chốt đơn.
Phân công một người có quyền yêu cầu dừng hoặc sửa nội dung sai. Ghi lại phiên bản đã duyệt và bản phát hành thực tế. Nếu agency đổi câu chữ sau phê duyệt, doanh nghiệp cần phát hiện được trước khi nội dung lan rộng, không đợi đến khi có phản ánh.

Bàn số 5: lập hồ sơ chiến dịch đủ để truy lại quyết định
Bộ hồ sơ nội bộ nên có tài liệu sản phẩm hiện hành, bảng câu quảng cáo và căn cứ, kịch bản, bản thiết kế, bản duyệt, hợp đồng với đơn vị thực hiện và bản phát hành. Tổ chức theo mã chiến dịch và phiên bản giúp tránh tìm nhầm tài liệu của sản phẩm gần giống.
Căn cứ cho câu quảng cáo cần đi cùng câu đó. Nếu có tài liệu đánh giá hiệu quả, ghi rõ phạm vi, điều kiện và hạn chế. Đối chiếu hồ sơ công bố mỹ phẩm giúp tập hợp tài liệu nền; không thay thế kiểm tra bằng chứng cho từng câu. Đừng lưu nghiên cứu mà không biết thông điệp lấy từ đâu.
Hồ sơ này là đề xuất quản trị nhằm kiểm soát trách nhiệm, không phải bộ thủ tục xin xác nhận mỹ phẩm được tạo lại dưới tên khác. Việc lưu trữ cần cân bằng tính đầy đủ với khả năng tìm kiếm; bộ phận vận hành phải truy được bản đã phát hành khi cần.
Phiếu duyệt nhanh trước khi bật chiến dịch
- Sản phẩm quảng cáo đúng hồ sơ và tình trạng công bố hiện tại.
- Công dụng không bị nâng thành lời hứa điều trị hoặc thay thuốc.
- Thông tin bắt buộc được thể hiện đúng hình thức quảng cáo.
- Không có hình ảnh hoặc uy tín chuyên môn y tế bị sử dụng trái quy định.
- Câu số liệu, so sánh và kết quả có căn cứ phù hợp.
- Agency, KOL và đội bán hàng đã nhận cùng một bản hướng dẫn.
- Trang đích, bài đăng và bản cắt video đã được rà lại.
- Có người phụ trách theo dõi, sửa và lưu bản phát hành.
Nếu một mục chưa đạt, ghi việc cần sửa và người xử lý. Không tích “đạt” chỉ để đáp ứng lịch chạy. Kinh phí truyền thông thường lớn hơn chi phí kiểm tra một phiên bản nội dung trước khi phát hành.
Khi nội dung sai đã chạy: xử lý theo thông điệp, không chỉ theo tệp
Trước hết, xác định các nơi nội dung xuất hiện: quảng cáo trả phí, bài của KOL, website, trang bán hàng và tệp gửi đại lý. Dừng hoặc sửa nội dung không phù hợp trong phạm vi kiểm soát, giữ lại thông tin cần thiết để rà nguyên nhân và trách nhiệm.
Sau đó, cập nhật bảng câu được dùng và hướng dẫn cho người thực hiện. Nếu chỉ gỡ một video nhưng đội bán hàng vẫn nói cùng lời hứa sai, rủi ro chưa được xử lý tận gốc. Việc điều chỉnh cần đi xuyên suốt chiến dịch và kênh tư vấn khách hàng.
Không chỉnh hồ sơ công bố để hợp thức hóa một câu quảng cáo chưa có căn cứ. Công bố, tài liệu sản phẩm và nội dung truyền thông phải phản ánh dữ kiện thật. Khi có phản ánh hoặc yêu cầu từ cơ quan quản lý, cần xử lý theo hồ sơ và quy định cụ thể.
Đã công bố rồi: điểm xuất phát, không phải điểm kết thúc
Với mỹ phẩm, câu trả lời thực tế là doanh nghiệp cần hoàn thiện hồ sơ sản phẩm và kiểm soát nội dung trước khi chạy, không tiếp tục sử dụng thủ tục xác nhận quảng cáo đã bị bãi bỏ. Một chiến dịch đúng phải vừa hấp dẫn vừa không khiến người tiêu dùng hiểu sai công dụng.
Vạn Luật có thể hỗ trợ rà dữ kiện sản phẩm, câu quảng cáo và quy trình làm việc với bên thực hiện. Doanh nghiệp nên cung cấp bản công bố hiện hành, nhãn, tài liệu công dụng và nội dung dự kiến phát hành để được đánh giá theo tình huống cụ thể.
Việc phân loại đúng ngay từ đầu giúp đội marketing nhận chỉ dẫn phù hợp thay vì một checklist xin phép chung cho mọi hàng hóa. Chủ động kiểm tra cả thông điệp và hình thức thể hiện giúp giảm nhu cầu sửa gấp sau khi đã trả chi phí sản xuất.
Đối chiếu quy định ngày 30/9/2026. Nội dung hướng dẫn quản trị quảng cáo, không bảo đảm một chiến dịch cụ thể được phép khi chưa rà hồ sơ và bản phát hành.
English
中文 (中国)
日本語













